Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách BHXH và xác định đây là một trong những chính sách xã hội cơ bản và là trụ cột của An sinh xã hội nhằm đảm bảo thu nhập, đời sống cho hàng triệu người lao động (NLĐ) cùng các đối tượng hưởng các chế độ BHXH


Một trong những hoạt động của tổ chức công đoàn BHXH tỉnh Bắc Ninh năm 2017

Bắc Ninh là một tỉnh đang trong thời kỳ chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Việc hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các làng nghề ... đã và đang thu hút lực lượng lao động lớn. Trong những năm qua, chính sách BHXH trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần, công ty TNHH (gọi tắt là Doanh nghiệp ngoài quốc doanh,  DNNQD) được thực hiện không chỉ đảm bảo sự công bằng, gắn bó giữa NLĐ với Doanh nghiệp (DN) mà còn đảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế. Lực lượng lao động trong các DNNQD ngày càng phát triển, trở thành một bộ phận đáng kể trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội và là nhân tố quan trọng góp phần phát triển sự nghiệp BHXH. Đảng và Nhà nước có chủ trương, đường lối, chính sách khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh (KTNQD) tham gia BHXH. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bộc lộ nhiều yếu kém. Các đơn vị doanh nghiệp tham gia chưa có sự hiểu biết rõ ràng về BHXH. Họ chưa coi việc đóng BHXH là quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng lao động (SDLĐ) còn rất hạn chế; chưa thực hiện tham gia BHXH bắt buộc còn cố tình trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ tham gia. Quyền lợi của NLĐ không được đảm bảo. Do đó cần phải có các biện pháp nâng cao vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc thực hiện chính sách BHXH cho người lao động tại DNNQD để đi vào nề nếp và ngày càng tốt hơn, đây được coi là vấn đề bức xúc hiện nay.

Như chúng ta đã biết:

- Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta mang tính nhân văn sâu sắc vì hạnh phúc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Nó liên quan trực tiếp đến đời sống NLĐ, nhằm phát huy nhân tố con người, yếu tố quyết định để thúc đẩy các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển một cách toàn diện.

- Việc thực hiện chính sách BHXH cho lao động NQD sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện có hiệu quả một số chính sách xã hội khác như chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. Hiện nay có khoảng 40% đối tượng nghèo đói tập trung ở nông thôn và miền núi, làm việc trong hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp. Phần lớn đối tượng này khi đang làm việc đều có khả năng tham gia BHXH nhưng đại đa số chưa được tham gia vì vậy khi hết tuổi lao động không có thu nhập, gia đình rất khó khăn. Vì vậy thực hiện tốt chính sách BHXH cho đối tượng này sẽ có ý nghĩa trong việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo.

- Việc đóng góp BHXH cho NLĐ sẽ làm cho chi phí của DN tăng lên, muốn tồn tại các DN phải cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng và mẫu mã sản phẩm hay các DN phải luôn đổi mới nhằm theo kịp và đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Khi kinh tế xã hội phát triển ổn định kéo theo sự ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Như vậy các khoản chi từ ngân sách nhà nước để khắc phục hậu quả rủi ro được giảm bớt.

- Bảo hiểm xã hội tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm. Bởi những bên tham gia phải đóng góp vào quỹ. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này chiếm tỷ trọng nhỏ so với những người tham gia đóng góp. Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc v.v. Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.

- Thực hiện tốt BHXH góp phần kích thích NLĐ hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng xuất lao động cá nhân và năng xuất lao động xã hội.

- Đối với nhà nước, chi cho BHXH là cách thức chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được những khó khăn về đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn.

- Bảo hiểm xã hội góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước đồng thời quỹ BHXH là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.

Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh và là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội. Tỉnh có địa giới hành chính tiếp giáp với các tỉnh: Bắc Giang ở phía Bắc, Hải Dương ở phía Đông Nam, Hưng Yên ở phía Nam và thủ đô Hà Nội ở phía Tây. Tính đến ngày 01/01/2017, tỉnh Bắc Ninh có 126 đơn vị hành chính cấp xã; 08 đơn vị hành chính cấp huyện, tổng diện tích tự nhiên: 82.271,12 ha; Dân số Bắc Ninh là 1.154.660 người, mật độ dân số 1.403 người/km² (Theo số liệu thống kê năm 2016). Hoạt động của Công đoàn tỉnh Bắc ninh cũng đạt được nhiều thành tựu đáng quý, công tác phát triển đoàn viên, thành lập Công đoàn cơ sở (CĐCS) khối DNNQD từ nhiều năm qua luôn được Liên đoàn lao động tỉnh Bắc Ninh đặc biệt quan tâm. Chỉ tính trong nhiệm kỳ vừa qua, LĐLĐ tỉnh đã kết nạp mới được trên 33.900 đoàn viên, phát triển thêm trên 350 CĐCS ngoài quốc doanh.

Trên cơ sở đó, xu hướng và mục tiêu phấn đấu của tỉnh Bắc Ninh là thực hiện một sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất, mở rộng đến toàn thể cộng đồng bằng nhiều chế độ đa dạng. Tiến tới phổ cập theo nguyên tắc đoàn kết sâu rộng và nhân ái đối với mọi người, đồng nhất trên cơ sở công bằng xã hội và bình đẳng đối với mọi tầng lớp trong cộng đồng, không phân biệt người làm công ăn lương, công chức nhà nước, NLĐ độc lập. Phổ cập và đồng nhất mọi người đều được hưởng quyền con người, được bảo vệ trước mọi rủi ro và biến cố ngẫu nhiên bất khả kháng trong cuộc sống. Cũng như các khu vực kinh tế khác, khu vực KTNQD có mối quan hệ giữa người SDLĐ và NLĐ nên cần có sự can thiệp của Nhà nước thông qua chính sách của BHXH để đảm bảo và hài hòa lợi ích của hai bên. Thêm vào đó, khu vực KTNQD cũng phải được bình đẳng với các khu vực kinh tế khác về các chính sách, pháp luật. Do đó, khu vực này cũng phải được hưởng các quyền lợi do chính sách BHXH mang lại cũng như phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, khu vực KTNQD ngày càng phát triển, ở các nước, khu vực KTNQD là khu vực kinh tế chủ yếu nên việc tham gia BHXH của khu vực này là tất yếu. Mọi đối tượng trong xã hội đều được tham gia theo các hình thức bắt buộc và tự nguyện. Đối với loại hình bắt buộc thì các chủ sử dụng có từ một lao động trở lên, còn đối với đối tượng tự nguyện là những người lao động tự do.

Trong những năm gần đây, khu vực KTNQD ở tỉnh Bắc Ninh có tốc độ phát triển rất nhanh và nhiều tiềm năng, huy động ngày càng nhiều lao động mới và lao động dôi dư từ quá trình cải cách DN nhà nước, tỷ trọng lao động thuộc khu vực này trong tổng lao động xã hội ngày càng tăng trong khi tỷ trọng tương ứng của khu vực Nhà nước ngày càng giảm. Do đó, nhu cầu, khả năng và điều kiện tham gia BHXH của khu vực này sẽ ngày càng lớn.

Vì vậy, khai thác lao động thuộc khu vực KTNQD tham gia BHXH sẽ làm tăng tỷ trọng lao động xã hội tham gia đóng góp vào quỹ BHXH. Một mặt làm tăng trưởng và phát triển quỹ BHXH, mặt khác bảo đảm quyền lợi cho NLĐ, nhất là với tình trạng ngày càng nhiều DN sử dụng lao động trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay. Thêm vào đó, NLĐ và người SDLĐ ở khu vực KTNQD tham gia BHXH thực chất là làm cho đối tượng tham gia BHXH được mở rộng. Đây là một định hướng đúng của ngành BHXH và của Nhà nước ta trong những năm gần đây và trong tương lai. Điều đó góp phần thực hiện nguyên tắc số đông bù số ít của BHXH.

Mặt khác, số người tham gia BHXH ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay còn thấp so với số tổng lao động, tỷ lệ số lao động được tham gia BHXH được hơn 17% trong tổng số lao động của toàn tỉnh. Như vậy còn khoảng hơn 80% số lao động chưa được tham gia BHXH trong đó chủ yếu là NLĐ ở khu vực KTNQD. Do đó việc tăng cường thực hiện BHXH cho lao động khu vục KTNQD là sự cần thiết và hoàn toàn phù hợp với chủ trương mở rộng đối tượng tham gia BHXH của Đảng và Nhà nước ta.

Ngoài ra, khi cơ chế quản lý kinh tế thay đổi, BHXH không còn là sự đãi ngộ của Nhà nước mà dựa vào sự đóng góp của NLĐ và người sử dụng lao động. Do vậy vai trò của tổ chức công đoàn trong việc tham gia BHXH cho người lao động là trách nhiệm và rất cần thiết, đồng thời cũng là trách nhiệm của NLĐ đối với chính cuộc sống của mình và cũng là thực hiện một nghĩa vụ trước pháp luật.

Qua thực tiễn triển khai BHXH cho NLĐ ở khu vực DNNQD trong những năm qua cho thấy NLĐ rất hoan nghênh và cho rằng chính sách BHXH đối với NLĐ ở khu vực này là chính sách thiết thực, bình đẳng, đáp ứng nhu cầu của NLĐ và phù hợp với tình hình đổi mới nền kinh tế xã hội của đất nước ta. Vì vậy, việc tiến hành thực hiện BHXH cho NLĐ ở khu vực này là hết sức cần thiết và thiết thực.

Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh thành lập và đi vào hoạt động được 20 năm, từ khi thành lập đến nay BHXH tỉnh Bắc Ninh luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp và kịp thời của BHXH Việt Nam, thường trực Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Bắc Ninh, cũng như sự phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan ban, ngành, đoàn thể, đơn vị sử dụng lao động. Chính vì điều đó mà BHXH tỉnh Bắc Ninh luôn tự tin trong công việc, đoàn kết, tích cực chủ động, sáng tạo bám sát nhiệm vụ trọng tâm của ngành và các chỉ tiêu kế hoạch được giao với tiến độ năm sau cao hơn năm trước, bảo đảm thu đúng, thu đủ, chính xác. Những năm qua, trong công tác thu BHXH, BHYT bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đạt và vượt kế hoạch. Theo số liệu thống kê của tỉnh, tính đến tháng 12/2016, toàn tỉnh có số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập theo đúng luật doanh nghiệp trên địa bàn là 6.615 doanh nghiệp, tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp chính thức hoạt động trên địa bàn tỉnh tính chỉ có 3.795 doanh nghiệp, với 180.203 lao động, trong đó số DNNQD đã tham gia đóng BHXH là 1.531 doanh nghiệp (tăng 15% so với cùng kỳ năm 2015), số lao động đã được tham gia BHXH là 29.198 người (tăng trên 3.000 người so với cùng kỳ năm 2015). Việc thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ trong DNNQD đã có những chuyển biến đáng kể về mọi mặt. Số DNNQD tham gia BHXH cho NLĐ tăng dần qua các năm và điều đó có nghĩa là NLĐ làm việc trong khu vực này tham gia BHXH cũng ngày một tăng. Quyền lợi và trách nhiệm về BHXH giữa các bên tham gia BHXH và cơ quan BHXH từng bước được củng cố và mở rộng góp phần nâng cao hiệu lực pháp luật. Ở một số huyện, thị xã, thành phố đã có nhiều biện pháp hữu hiệu để thực hiện BHXH cho lao động khu vực DNNQD và thu được kết quả rất khả quan. Những biện pháp này là những bài học kinh nghiệm quý báu cho các địa phương khác trong việc thực hiện BHXH cho lao động ở khu vực này.

Kết quả thực hiện chế độ BHXH đối với DNNQD đã góp phần vào việc hoạch định và hoàn thiện cơ chế chính sách về BHXH của các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan ban hành pháp luật góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc thực hiện chính sách BHXH đối với NLĐ nói chung và khu vực KTNQD nói riêng để quỹ BHXH ổn định và phát triển. Hiện trên địa bàn tỉnh còn nhiều DNNQD được thành lập đã đăng ký tham gia BHXH cho NLĐ nhưng chưa thực hiện nghiêm túc việc trích nộp tiền BHXH đầy đủ hàng tháng theo quy định của pháp luật. Tính đến tháng 12/2016 số DNNQD trên địa bàn tỉnh nợ tiền tham gia BHXH từ 02 tháng trở lên là 673 doanh nghiệp, với số tiền nợ đọng là trên 111,92 tỷ đồng, cũng như còn nhiều DNNQD chưa đăng ký tham gia BHXH cho NLĐ là rất lớn từ đó cho thấy một lượng lớn lao động chưa được tham gia BHXH theo quy định của pháp luật, đòi hỏi vai trò của tổ chức công đoàn trong các DNNQD cần có sự đổi mới trong hoạt động của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho NLĐ.

Từ nhận thức trên cho thấy vai trò của Công đoàn trong việc thực hiện chính sách BHXH cho người lao động trong một số DNNQD trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh theo đánh giá của người lao động, công đoàn cơ sở đã tích cực thực hiện nhiệm vụ này cụ thể thông qua các hoạt động kiểm tra, giám sát, phát hiện những vi phạm của người sử dụng lao động về chế độ BHXH. Trong trường hợp cần thiết, để bảo vệ quyền lợi người lao động về BHXH, công đoàn đại diện cho người lao động tiến hành khởi kiện những doanh nghiệp nợ BHXH ra tòa.

Tuy nhiên, không phải tất cả các cấp công đoàn đều làm tốt chức năng, nhiệm vụ của mình; một số công đoàn cơ sở hoạt động còn mờ nhạt, chưa thể hiện tốt trách nhiệm của mình đối với người lao động. Theo tôi có 4 nguyên nhân chính khiến vai trò của tổ chức Công đoàn tại các DNNQD còn mờ nhạt trong việc thực hiện chính sách BHXH cho người lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là:

Thứ nhất là: chất lượng của một số cán bộ công đoàn cơ sở chưa đáp ứng được nhiệm vụ đặt ra cho tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp. Đa số cán bộ công đoàn là kiêm nhiệm, phụ thuộc hoàn toàn vào chủ doanh nghiệp, không dám đứng ra đấu tranh bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng cho NLĐ khi bị vi phạm. Tình trạng cán bộ phải kiêm nhiều vị trí việc làm, áp lực công việc lớn, tham gia Ban chấp hành mang tính cơ cấu, không có thời gian để nghiên cứu và tham gia hoạt động công đoàn. Việc đưa cán bộ công đoàn chuyên trách xuống trực tiếp làm Chủ tịch công đoàn trong các doanh nghiệp hết sức khó khăn do chủ doanh nghiệp không đồng tình. Vì vậy cán bộ công đoàn thường ngại va chạm và tránh xung đột với người sử dụng lao động.

Thứ hai là: do một số cán bộ CĐCS mới được bầu vào làm cán bộ công đoàn, còn hạn chế về năng lực, chưa am hiểu sâu về luật pháp, chế độ, chính sách có liên quan đến NLĐ, chưa được đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ công tác tuyên truyền giáo dục, cùng với sự hiểu biết chưa đầy đủ về chức năng, kỹ năng hoạt động nên chưa thực hiện được trách nhiệm của mình là người đại diện bảo vệ quyền lợi của NLĐ. Việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho NLĐ để họ hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào các quan hệ lao động còn hạn chế. NLĐ đa số vừa xuất thân từ nông nghiệp, chưa qua đào tạo nên ý thức, tác phong, kỷ luật lao động còn thấp kém, tay nghề chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, nhất là những công việc đòi hỏi kỹ thuật, chuyên môn cao, đôi khi chỉ đòi hỏi quyền lợi một chiều mà quên trách nhiệm và nghĩa vụ đối với doanh nghiệp và xã hội. Việc tuyên truyền, vận động đối với người sử dụng lao động để họ hiểu đúng và ủng hộ cho hoạt động công đoàn của cán bộ CĐCS rất hạn chế.

Thứ ba là: một bộ phận người sử dụng lao động chưa chấp hành tốt các chính sách, pháp luật, nhất là việc thực hiện các quy định về quy chế dân chủ cơ sở trong doanh nghiệp, trong việc ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thể, xác định định mức lao động, xây dựng thang bảng lương, thực hiện chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), an toàn, vệ sinh lao động ... chưa tạo điều kiện cho công đoàn và cán bộ công đoàn hoạt động, chưa phối hợp chặt chẽ với tổ chức công đoàn trong việc tổ chức sản xuất, kinh doanh, trong việc tổ chức đối thoại, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ.

Thứ tư là: cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ công đoàn, nhất là cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn còn hạn chế, chưa khuyến khích động viên được cán bộ công đoàn, toàn tâm toàn ý đứng về phía NLĐ, bảo vệ NLĐ.

Từ những nguyên nhân trên, để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong hoạt động, phát huy vai trò trực tiếp của CĐCS trong việc tham gia BHXH và là đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ trong các DNNQD, tôi xin đưa ra một số giải pháp chủ yếu như sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự phối hợp của các cấp chính quyền và các ngành chức năng trong việc lãnh đạo, tạo điều kiện cho CĐCS trong các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động có hiệu quả. Đẩy mạnh công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra trong việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với CNLĐ theo quy định của pháp luật, kiến nghị xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là các chế độ về tiền lương, tiền công, BHXH, BHYT, BHTN, bảo hộ lao động, điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động...

Hai là, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cho NLĐ và người sử dụng lao động về những quy định của pháp luật lao động và pháp luật công đoàn, về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, sự cần thiết phải có tổ chức công đoàn trong DN, chăm lo bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng cho NLĐ nhất là thực hiện tốt việc tham gia BHXH, BHYT, BHTN, đẩy mạnh các phong trào thi đua trong DN, đem lại lợi ích thiết thực cho NLĐ, góp phần phát triển doanh nghiệp bền vững.

Thông qua các hoạt động như tư vấn pháp luật, tuyên truyền lưu động tại nơi làm việc và khu nhà trọ, cấp phát tơ rơi, sổ tay pháp luật, tuyên truyền thông qua hệ thống bảng tin, loa truyền thanh nội bộ, tủ sách pháp luật tại cơ sở ... giúp nâng cao nhận thức cho NLĐ và người sử dụng lao động để họ hiểu rõ hơn về quyền và trách nhiệm của mình trong quan hệ lao động cũng như khi tham gia BHXH, BHYT, BHTN góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình ở địa phương.

Hàng năm tổ chức tốt “Tháng công nhân” với các hoạt động, như tổ chức lễ mít tinh, phát động hưởng ứng “Tháng công nhân” tại các khu công nghiệp; thăm hỏi tặng quà cho những công nhân có hoàn cảnh khó khăn; tôn vinh, tuyên dương những NLĐ, Chủ tịch công đoàn cơ sở, người sử dụng lao động tiêu biểu trong DN; tư vấn pháp luật về BHXH, BHYT, tư vấn sức khoẻ sinh sản, tư vấn và giới thiệu việc làm; tổ chức đối thoại trực tiếp giữa NLĐ và người sử dụng lao động; tổ chức hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao ... Thông qua hoạt động, góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn.

Ba là, tăng cường phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở trong DNNQD. Cần rà soát số lượng DN đủ điều kiện thành lập công đoàn, kiện toàn và củng cố tổ chức hoạt động tại các CĐCS ở những đơn vị đã có tổ chức công đoàn, nhằm thay đổi nhận thức cho người sử dụng lao động và NLĐ, ủng hộ việc thành lập và hoạt động của CĐCS trong doanh nghiệp, thực hiện tốt các chế độ chính sách BHXH, BHYT cho NLĐ.

Bốn là, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở đảm bảo chất lượng, đổi mới nội dung và hình thức hoạt động theo hướng hiệu quả và thiết thực đối với NLĐ, để họ thấy rõ lợi ích khi tham gia tham gia BHXH, BHYT, BHTN. Chỉ đạo đổi mới nội dung và cách thức hoạt động của CĐCS, hướng về việc chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho CNLĐ như hướng dẫn ký kết hợp đồng lao động, thương lượng và ký kết thoả ước lao động tập thể, xây dựng và giám sát thực hiện chế độ, chính sách, phối hợp tổ chức tốt Hội nghị người lao động, Hội nghị đối thoại giữa NLĐ và người sử dụng lao động, nắm bắt tư tưởng công nhân lao động, kiến nghị giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

Bảo hiểm xã hội cho người lao động tại các DNNQD là sự tiếp nối và mở rộng của BHXH trong khu vực Nhà nước mang tính tất yếu chuyển từ cơ chế kinh tế một thành phần sang cơ chế kinh tế nhiều thành phần với sự bình đẳng. Đây là một quá trình làm chuyển đổi nhận thức đòi hỏi phải có thời gian và bằng những việc làm thiết thực của tổ chức Công đoàn với những cuộc vận động, tạo cho mọi người thấy được lợi ích, có được niềm tin, từ tính cưỡng chế của pháp luật thành tính tự giác, tự nguyện của mọi người. Vấn đề thực hiện BHXH đối với NLĐ trong các DNNQD không còn là mới mẻ, nhưng thực tế cho thấy kết quả lại đạt được chưa như mong muốn, nảy sinh nhiều vấn đề, tồn tại nhiều bất cập cần phải được giải quyết ngay. Tuy nhiên, để BHXH trở thành thói quen của tất cả mọi người, các đơn vị kinh tế và NLĐ trong DNNQD tham gia BHXH một cách nề nếp theo đúng luật định thì không phải là một vấn đề đơn giản. Song cùng với sự nỗ lực của các cấp các ngành đặc biệt là vai trò của tổ chức công đoàn, chúng ta hy vọng trong thời gian tới việc thực hiện chính sách BHXH đối với NLĐ trong các DNNQD sẽ gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp. Không những chỉ góp phần đảm bảo quyền lợi cho NLĐ mà còn củng cố, thúc đẩy chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn, xây dựng tỉnh Bắc Ninh giầu đẹp, văn minh và phát triển./.

Nguyễn Mạnh Tuất - Phó Trưởng phòng Thanh tra - Kiểm tra BHXH tỉnh